Thu Ngo
Chu Ki
Y Kien Ban Đoc
Thong Tin Moi
CHONG VAN CHUONG MIET THI NU GIOI
Thu Ngo

Về bài “Hĩm và Cu” của Hoàng Ngọc Tuấn

 

Karl Marx:

"Các triết gia từ trước đến nay chỉ diễn dịch thế giới theo cách này hay cách khác; nhưng vấn đề là phải thay đổi thế giới."

 

khuyến:

"Các phê b́nh gia Việt Nam từ trước đến nay chỉ (suy) diễn dịch thế giới theo cách (bừa) này hay cách (bậy) khác; nên vấn đề là không thay đổi được thế giới”

 

Sau khi chúng tôi đăng bài viết đả kích chủ nghĩa miệt thị phụ nữ trong văn chương Việt Nam trên Talawas, các bút nam lập tức lần lượt lên tiếng một cách thô bạo để bào chữa cho ḿnh và sử dụng những loạn ngôn như “chính quyền độc tài”, "cộng sản," “đạo đức chuyên chế,” v.v. để diễn tả chúng tôi. Một trong những bài vu khống “tiêu biểu” nhất là “hí luận” của Hoàng-Ngọc Tuấn (HNT) mang tựa đề “Hĩm và Cu.”  Không khác tất cả những người đă lên tiếng về bài viết của chúng tôi, HNT khăng khăng cho là chúng tôi cưỡng đoạt tự do trần truồng của nhân loại nói chung và tự do khoe rốn của các nhà thơ nữ nói riêng. Thêm vào đó, HNT c̣n đưa ra một vài định nghĩa [của riêng ông] về chủ nghĩa nữ quyền nhằm kết luận/tội tính "phản nữ quyền" của chúng tôi. Những nhận định ngô nghê này được chúng tôi đă bác bỏ trong bài "Nguyễn Trần Khuyên là ai?" nên sẽ không đề cập thêm ở đây.  Trong bài này, chúng tôi muốn nêu lên một khía cạnh đáng nực cười hơn của bài “Hĩm và Cu,” đó là: Thập tḥ sau hai chữ “hí luận,” Hoàng Ngọc Tuấn, một trí thức kiêm nghiên cứu gia tại sống tại Úc, một người được xem là “trụ cột” của văn chương Việt Nam đương đại, đă quẳng hết ư thức trách nhiệm, sử dụng tài liệu trên mạng một cách bừa băi, diễn dẫn sai lệch các nguồn thông tin nhằm bảo vệ cho "hí" luận lừa đảo của ḿnh.

 

Chính xác hơn, bài viết này là đỉnh điểm của chế độ đực quyền tân thời và một điển h́nh của tư duy kém cỏi và thái độ ḱ thị nữ giới của cá nhân HNT. Cách viết nửa đùa nửa thật của HNT không nhằm tạo một cuộc trao đồi thành thật ṣng phẳng, mà để ngăn chặn người khác (nghĩa là chúng tôi) lên tiếng phản hồi. Nếu chúng tôi không phản hồi, nghĩa là HNT "thắng." C̣n nếu chúng tôi nghiêm túc chỉ trích, nghĩa là chúng tôi giở tṛ "nữ quyền bạt mạng" hoặc "có bé xé to" hoặc không có đầu óc hài hước. Kiểu suy nghĩ "có ǵ đâu, hí luận cho vui mà..." là cách để HNT đơn phương biến một đề tài tranh luận đầy triển vọng thành một tấn hài kịch để khỏi phải trả lời cho nhận định hạ cấp của ḿnh. 

 

Về tham khảo bừa băi và suy diễn lệch lạc của Hoàng Ngọc Tuấn:

 

Chúng tôi đọc "Hĩm và Cu" với một lưu ư đơn giản: Hí luận không phải là phát ngôn bừa băi. Nếu bài của HNT là một bài “hí” nhảm nhí, giải trí vớ vẩn th́ "lờ" đi là hay nhất. Nhưng đằng này, bài viết nhố nhăng của HNT không những đậm đặc tính ḱ thị chủng tộc, ḱ thị giới tính mà c̣n định nghĩa cho chị em chúng tôi thế nào là nữ quyền th́ chúng tôi buộc phải lên tiếng. Hơn nữa, một bài hí luận kết tội người khác mà chỉ dựa trên những suy luận cẩu thả th́ thật “bi đát” cho cá nhân HNT và tất cả trí thức bù nh́n ủng hộ ông ta. Ở mức độ tối thiểu, HNT cũng phải xem xét tài liệu kĩ lưỡng trước khi lên tiếng “hí” th́ mới "vui vẻ" và người bị phê b́nh cũng không thấy oan ức mà "kiểm điểm nhận lỗi." Là một giáo sư đại học, thiết nghĩ ông ấy cũng biết rằng tiêu chỉ đầu tiên của tất cả những nhận định có giá trị là kiểm tra xem các nguồn thông tin (sources) của ḿnh có đáng tin cậy hay không.  Không biết ông Tuấn dạy học sinh của ông nghiên cứu cách nào, chứ ở Mỹ th́ ngay cả học sinh trung học cũng được luyện cách dùng tài liệu cho các bài luận văn nghiên cứu cuả ḿnh nghiêm chỉnh lắm.  Lên tới đại học và cao học, họ càng phải cẩn thận và chọn lọc hơn trong việc sử dụng các nguồn thông tin, đặc biệt là thông tin trên mạng, để bảo vệ lập luận của ḿnh. 

 

Trong bài “Hĩm và Cu,” HNT đă dùng và khen “rất hay” là một đoạn phim hoạt h́nh ngắn mang tên “Taliban Women’s Revolt” diễn tả phụ nữ dưới chế độ Taleban “muốn được giải phóng t́nh dục” của họ. Bộ phim này được HNT “thông dịch tóm tắt” như sau: “Osama bin Laden cùng hàng ngũ lănh đạo Taliban đang hùng hồn tuyên truyền "chính nghĩa" trước ống kính của đài truyền h́nh, và phía sau lưng họ là hàng chục chị em đứng thẳng tắp, từ đầu đến chân bị gói cứng đơ như những xác ướp. Thế nhưng, trong lúc bọn ác ôn này đang bô bô mô tả cái đức hạnh phục tùng tuyệt đối của phụ nữ Afghanistan, th́ chị em ta quyết định nhân cơ hội ngàn vàng để tự giải phóng thân xác ḿnh trước nhăn quan thế giới.”  Khi xem đoạn phim này, chúng tôi phát hiện là HNT tuyệt nhiên không đề cập đến việc phim "Taliban Women’s Revolt" là một dạng phim hài rẻ tiền có tính chất cực ḱ ḱ thị chủng tộc và miệt thị giới tính. Thế mà HNT lại dùng chính đoạn phim này để oang oang chứng minh rằng nữ quyền Afghanistan đang đấu tranh cho tự do thể xác của họ. Thật trớ trêu (mặc dù không mấy ngạc nhiên) v́ HNT đă đui mù trước thông điệp ḱ thị chủng tộc của người da trắng, chính sách khủng bố của Hoa Kỳ và việc thể xác phụ nữ lại bị mang ra làm công cụ cho đàn ông thi thố quyền lưc. Chẳng đặng đừng chúng tôi phải phân tích đoạn phim này nhằm ngăn chặn HNT lợi dụng tên tuổi của ḿnh để hiệu lực hoá và phố biến quan điểm kị thị và miệt thị nữ quyền của cá nhân ông. 

 

Nhưng trước khi phân tích nội dung phim, chúng tôi muốn nói sơ về hoàn cảnh ra đời của nó: Phim được upload trên mạng ngày 19/11/2001, khoảng hai tháng sau sư kiện New York bị bom ngày 11/9/2001. Chỉ một ngày sau khi được phổ biến, đoạn phim lập tức được xếp hạng nh́ về số lượng người xem của website đó và được b́nh chọn là "Phim Tiêu Biểu Nhất Tuần." Chi tiết quan trọng nhất mà HNT vô t́nh hay cố ư lờ đi là đoạn phim được "biên soạn" bởi một người đàn ông Mỹ da trắng tên là Jeff Swenson (32 tuổi, đến từ thành phố Seatle của tiểu bang Washington, Hoa Kỳ). Bên cạnh đoạn phim này, Swenson c̣n làm hàng loạt những mẫu phim khác mà ngay cả anh ta cũng cho là "lowbrow, tasteless" (hạ cấp, khiếm nhă) với những h́nh ảnh và nội dung ḱ thị tương tự. Swenson cũng công khai trực tiếp link các trang "dành cho người lớn" trong phần giới thiệu về ḿnh cho khán giả cùng thưởng lăm. Chi tiết này cho chúng ta thấy đoạn phim “Taliban Women’s Revolt” không phải là đoạn phim về cuộc đấu tranh nữ quyền của và bởi phụ nữ Afghanistan (như HNT đă không môt chút ngượng ngùng tuyên bố). Mà ngược lại, như tất cả những clip phim "hạ cấp và khiêm nhă" khác của Swenson, "Taliban" có mục đích duy nhất là phục vụ cho đực tính bá quyền ḱ thị của Mỹ.

 

Ở mức nh́n sơ khởi, khía cạnh "khôi hài" của bộ phim có thể được giải thích một cách dễ dàng: 1) Kỹ thuât h́nh ảnh và kiểu hài hạ thấp nhân cách (derogatory) rất giống phim South Park, một loạt phim hoạt h́nh người lớn rất thịnh hành ở Mỹ. 2) Đoạn phim đánh đúng tâm trạng phẫn nộ của người Mỹ đối với chính quyền Taleban và ước vọng trả thù của họ sau vụ bom New York, bằng cách: a) mọi rợ hoá và triệt tiêu đàn ông Taleban, b) Tây hoá/"thuần hoá"/"văn minh" hoá phụ nữ Afghanistan và biến họ thành chiến lợi phẩm của chính quyền Mỹ, c) qua đó chứng tỏ sự "oai hùng," tính "đàn ông" và "chính nghĩa" của Hoa Kỳ. 

 

Trong hoàn cảnh trính trị ở Mỹ vào thời điểm năm 2001, việc đoạn phim được ưa chuộng bởi số đông dân Mỹ quả không khó hiểu. Nhưng chúng tôi quả quyết rằng chỉ cần một ít thâm thuư, một ít khả năng nh́n xuyên bề mặt, độc giả sẽ phát hiện ra ngay tại sao bộ phim chẳng có tí ǵ buồn cười mà ngược lại c̣n rất phản nhân sinh và phản nữ quyền. Từ đó, độc giả sẽ phải đặt lại câu hỏi: đoạn phim này buồn cười đối với ai? Chúng tôi không ngần ngại trả lời rằng: đoạn phim chỉ buồn cười đối với những người thoả hiệp với chủ nghĩa ḱ thị chủng tộc, ḱ th́ phái tính, ḱ thị phụ nữ và ḱ thị nữ quyền. Chúng tôi dùng cụm từ "ḱ thị" để chỉ đến tất cả các hành động/hoạt động, vô t́nh hay cố ư, thuộc về một cá nhân hay một hệ thống văn hoá chính trị xă hội, nhằm bảo vệ và duy tŕ mọi khía cạnh của cơ chế bất b́nh đẳng. Tương tự, chúng tôi dùng các nhóm từ "phái tính," "phụ nữ" và "nữ quyền" nhằm phân biệt và nhấn mạnh sự đa tầng của hệ thống đàn áp. (Ví dụ: một người đàn ông đồng tính da trắng hoàn toàn có thể ḱ thị những người đàn ông da đen đồng tính. Tương tự, một người đàn ông da đen dị tính có thế ḱ thị những người đàn ông da đen đồng tính. Và cuối cùng, phụ nữ đồng tính da đen có thể là nạn nhân của những người đàn bà da đen dị tính, đàn ông da đen dị tính và đồng tính, và đương nhiên của cả đàn ông lẫn đàn bà da trắng bất kể đồng tính hay dị tính, v.v.)        

 

Để hiểu thêm clip phim này, chúng ta cấn đặt nó ở giao điểm của các bối cảnh 1) lịch sử ḱ thị chủng tộc của Hoa Kỳ từ thời lập quốc, 2) lịch sử đô hộ đương thời và quan hệ văn hoá chính trị giữa Hoa Kỳ và các nước Trung Đông thời đương đại, 3) truyền thống miệt thị nữ giới ở Hoa Kỳ nói chung và thế giới nói riêng, chứ không phải là nói qua loa đế đi đến những kết luận "bậy bạ." Chính tại giao điểm này, độc giả sẽ thấy ngay "Taleban's Women Revolt" là sản phẩm của chế độ đàn áp chủng tộc và đàn áp giới tính của Mỹ, chứ không phải là bộ phim về cuộc tranh đấu cho tự do trần truồng của phụ nữ Afghanistan.  Tuy nhiên, chúng tôi không thể mổ xẻ một cách tuyệt đối tất cả khía cạnh rất phức tạp của vấn đề này trong một bài viết. Do đó, chúng tôi xin mạn phép phân tích clip phim dựa trên hai khái niệm căn bản của lư thuyết hậu thuộc địa và giới tính, cụ thể là: 1) sự xung đột giữa Đực trong Tâm lí Hậu-thuộc địa và 2) t́nh dục và vị trí của phụ nữ trong dục tưởng của Đực.

 

A.   Xung đột giữa Đực trong Tâm lí Hậu-thuộc địa

 

Đoạn phim “Taliban Women’s Revolt” không phải đề cập đến xung đột giữa nữ quyền và phụ quyền, mà là sự xung đột tranh quyền giữa Đực (contending masculinities).  Nhà Xă hội học R.W. Connell, cũng là một thuyết gia về giới tính, nhận định rằng trong vấn đề đực tính, không phải chỉ có một đực tính tổng kết mà trong kết cấu của xă hội có cái ông gọi là “đa đực tính” (multiple masculinities).  H́nh dạng và cá tính của mỗi đực tính trong số đông Đực tính này được tạo bằng từng quan hệ cá nhân của nó với những đực tính khác và với phụ nữ.  Tuy nhiên, sự cơ bản nhất và cũng là trọng điểm của hệ thống quan hệ giữa những đực tính này là sự đàn áp toàn cầu của phụ nữ bởi đàn ông.  Trong cuốn “Gender and Power” (Giới tính và Quyền Lực), Connell giải thích sơ bộ cái ông gọi là “đực tính bá quyền” (hegemonic masculinity): “Đực tính bá quyền luôn luôn được xây dựng với sự phụ thuộc của những đực tính khác đồng thời trong mối quan hệ giữa nó với phụ nữ.  Sự đa h́nh của đực tính là một khía cạnh quan trọng cho chức năng của chế độ phụ quyền. (183)”  Trong khái niệm đực tính bá quyền, Connell dùng từ bá quyền theo định nghĩa của Antonio Gramsci, có nghĩa là “một uy lực xă hội đạt được trong tṛ chơi giữa những thế lực xă hội, từ sự tranh đua quyền lực vũ phu được đưa vào sự tổ chức của cuộc sống cá nhân và những tiến triển văn hóa.  (184)” Thêm vào đó, đực tính bá quyền là một hiện tượng hết sức công khai.[1]

 

Trong bối cảnh của đoạn phim Taleban Women’s Revolt, đực tính của phương Tây (của những khán giả đồng t́nh với bộ phim) “cao” hơn (“nhiều” hơn, “đáng” là đàn ông hơn) nhóm người đàn ông Trung Đông.  Xung đột của những đực tính ở đây đồng nghĩa với xung đột giữa chính quyền, giữa hai quốc gia (bọn ḿnh là Mỹ và bọn chúng là Taleban, Hồi giáo).  Và nó là một sự tranh quyền công khai, dùng bạo lực để quyết định ai sẽ là “vua đất này.”  Sự bạo lực ở đây cũng nằm trong giải thích của Connell về luật chơi giữa các tính đực –đó là, bá quyền, tuy không thiết lập trên vũ lực nhưng cách nó thành h́nh cũng không khác biệt với vũ lực.  Trong xă hội, việc đánh người, đàn áp kinh tế (hay đàn áp trong những lĩnh vực khác) thường xuất phát từ và dùng để duy tŕ một mô h́nh thống trị văn hóa (cultural dominance).

 

Đực tính bá quyền Mỹ c̣n thể hiện rơ hơn nữa khi chúng ta thấy chính nó là cái đực toàn thắng cuối cùng trong cuộc tranh đua đực tính này. Trong phim, tất cả h́nh ảnh biểu trưng cho đực Trung Đông đều chết phanh thây, chỉ có đực Mỹ hoàn toàn chiến thắng.  H́nh ảnh chim đại bàng, một biểu tượng của Hoa Kỳ, bay xuống bốc đực Taleban về tổ và mổ rách đầu cho thấy tham vọng đực tính bá quyền không chỉ giới hạn ở mức cá nhân, mà c̣n mang tính cách quốc gia. Trong cuộc tranh chấp giữa hai thế lực đực này, h́nh ảnh phụ nữ Afghanistan tự tay giết chết chính quyền Taleban có mục đích khẳng định sự tự tôn và chính nghĩa của thế lực đực Mỹ.

 

Như vậy, cuộc tranh đua của những cái đực để được làm “chúa tể rừng xanh” và quan hệ của chúng không những dựa trên sự tàn sát lẫn nhau mà tất cả những tính đực (bá quyền hay bị đàn áp) đều thiết lập trên sự đàn áp phụ nữ như chúng tôi đă đề cập như trên qua thuyết của Connell. Bên cạnh đó, một khía cạnh quan trọng mà chúng tôi thấy trong bộ phim này qua sự đắc thắng của đực-Mỹ là một biểu hiện của Tâm lí Hậu-thuộc địa.  Trong những công tŕnh nghiên cứu Hậu- thuộc địa khoảng thời gian gần đây đă chứng minh rất rơ sự quan hệ mật thiết giữa chính sách cũng như tâm lí đô hộ với vấn đề giới tính và dục tính. Nói cách khác, ranh giới và xung đột giữa những cái đực trong văn hóa Tây phương hướng ngoại lại khoác thêm một lớp nữa: bộ mặt “ṇi giống” và “quốc thể”. Chúng ta có thể dùng nhận định của nhà nghiên cứu lịch sử Ấn Độ Partha Chatterjee để áp dụng vào bộ phim này: “Tâm lư thuộc địa đặt ḿnh vào vị trí cảm thông cho những người phụ nữ không tự do, bị đàn áp của Ấn Độ [của Afghanistan] để biến h́nh ảnh họ thành dấu hiệu cho một thực chất đàn áp, phản tự do của nguyên cả tục tập văn hóa của một đất nước”[2]

 

Tâm lư thuộc địa thời đại này không c̣n dùng đến ngôn từ “văn minh hóa những kẻ mọi rợ” mà là “hiện đại hóa những nước thứ ba” và “dân chủ hóa” họ.  Và, theo như V. Spike Peterson nhận định, tâm lư thuộc địa hiện đại bào chữa cho ḿnh bằng lư do là v́ họ (trong bộ phim, họ là những người đàn ông Trung Đông) “thiếu tự trọng nên họ không có quyền đ̣i hỏi được tôn trọng và b́nh quyền trong quan hệ: sự thống trị ngoại bang v́ thế không những được bào chữa mà c̣n được tŕnh bày như một công cuộc giải phóng.  Gần đây hơn, trong thời ḱ Gulf War, ‘sự đàn áp’ phụ nữ A-rập được so sánh với ‘sự tư do’ của phụ nữ Mỹ, ư muốn chỉ đến khía cạnh ‘văn minh hóa’ của chiến tranh với Iraq.”   Trong chú thích cuối bài viết, Peterson c̣n bàn thêm:B́nh quyền giới tính đă không c̣n là mục đích mà chỉ là nước cờ trong những cuộc chiến này.  Phía địa chủ Tây phương đàn áp đàn bà ở quốc gia họ và những nơi khác trên thế giới, c̣n Mỹ th́ ra vẻ bảo vệ Kuwait, nơi mà phụ nữ không có quyền bầu cử.  Theo Enloe th́ những mâu thuẫn rơ rệt này có thể hiểu được nếu chúng ta xem chúng không phải liên quan đến vấn đề giải phóng mà như một chiến lược bào chữa: hợp pháp hóa việc một nhóm đàn ông thống trị một nhóm đàn ông “khác” và cộng đồng của họ.”[3]

 

Như vậy, qua cách nh́n của Peterson, quá tŕnh Mỹ h́nh thành những định kiến ḱ thị về các văn hóa Trung Đông là một quá tŕnh dài và phức tạp, gắn liền với lịch sử bành trướng của Tây phương.  Trong công cuộc xâm lăng để thống trị các dân tộc khác, phương Tây luôn đối lập cái đực-bá-quyền của họ với cái đực-kia (Ấn Độ, Tàu, Đông Nam Á, Phi Châu, v.v.), và cái đực-bá-quyền phương Tây được xem là cái Đực hoàn hảo, đầy đủ tiêu chuẩn để càn quét, khai thác, và bóc lột kẻ/cái Đực kém hoàn hảo khác.  V́ thế, để nh́n vào một khía cạnh về giới tính mà không bàn đến những “trục quan hệ quyền lực”[4] khác là sự đơn giản hóa vấn đề vô trách nhiệm của Hoàng Ngọc Tuấn nói riêng và những bài viết tương tự của các tác giả khác nói chung.  Cho nên, chúng ta không thể bàn về cuộc “giải phóng thể xác” của đoạn phim trên mà không đồng thời nhận ra những sự áp đặt khác đang tiến diễn bên trên sự bất công giới tính đó.  Nói cách khác, chúng ta không thể vùi lấp những sự thật bi thảm và hậu quả khốc liệt của nhiều sự bất công xảy đến cho phụ nữ phải sống dưới những thế lực cạnh tranh của Đực.

 

b. Vị trí của phụ nữ trong sự tưởng tượng của Đực thông qua bộ phim

 

Như chúng tôi đă bàn trên, những xung đột giữa các phần tử đực tính với nhau, cuối cùng, cũng nằm trên sự đàn áp phụ nữ.  Để chứng tỏ ḿnh là “đực chuyên chính,” cá thể nó phải đạp lên những cái đực khác, và quan trọng nhất, nó phải đạp lên thể xác đàn bà.  Nữ quyền thuyết gia Luce Irigaray trong bài nhận định/phân tích nổi tiếng của bà, “This sex which is not One” (Giống Tính này không chỉ là Một) cho rằng: “Người ta t́m thấy trong phần lớn t́nh dục Tây phương sự cưỡng bách cấu tạo từ tranh đua giữa giống đực: người “mạnh nhất” là người “cương cao nhất,” người có cái dương vật cứng nhất, to nhất, mạnh nhất, hoặc kẻ “đái xa nhất”…Đàn bà, trong thế giới tưởng tượng dục tính này ít hay nhiều chỉ là người dàn xếp tự măn cho sự bộc lộ dục vọng của đàn ông.  Có thể, và chắc chắn, là nguời đàn bà khoái cảm lây, nhưng khoái cảm này trước hết là sự bán thân tự hành của thể xác họ cho một sự thèm muốn của kẻ khác, để người đàn bà đó lại trong t́nh trạng lệ thuộc như xưa.”[5]

 

Khi vận dụng những khiá cạnh trên của Irigaray cho đoạn phim, chúng ta có thể thấy được chủ thể của cuộc “giải phóng” trong đoạn phim này không phải là phụ nữ Afghanistan mà là cái đực-tư bản-Mỹ.   Sau khi đă hành quyết hết tất cả mọi thành phần của đực-Trung Đông, câu nói đầu tiên của họ trong đoạn phim là “Chị em ơi, hăy đi mướn một thằng vũ công khỏa thân, và uống bia nhẹ đô (Come on girls, let’s go hire a male stripper and drink light beer).”  Sau đó có người khác lên tiếng, “Tôi phải ghé qua mua tampons. (I have to stop by and get some tampons),” và cuối cùng là, “Có ai biết nơi nào cho tôi phá thai không? (Does anyone know where I can get an abortion?)”  Đây là những khái niệm về “nữ tính hiện đại” của giới đực Tây phương mà cũng là cách người đạo diễn Mỹ trắng này đồng hoá những ao ước và đ̣i hỏi của phụ nữ Afghanistan như h́nh ảnh của hắn cho phụ nữ Mỹ --những đứa con gái vừa giữ được “nữ tính” vừa có thể “uống bia” và “táo tợn” (đi xem vũ khỏa thân, phá thai, dùng tampon v.v.)[6].  Hắn ta hoàn toàn phủ nhận những cố gắng về mặt hoạt động cũng như lư thuyết của các nhà nữ quyền để thực sự chống đối và lật đổ một ư thức hệ về t́nh dục và quan hệ mà trong đó đàn ông và dương vật vẫn là trọng tâm. V́ vậy chúng ta cũng thấy một điều đơn giản trong đoạn phim này là khái niệm “nữ quyền Afghanistan” cũng hoàn toàn nằm ngoài sự hiểu biết của Swenson và chỉ dựa trên sự tưởng tượng của hắn.  Điều này thể hiện qua đoạn cuối của bộ phim:  sau khi họ đă được “giải phóng,” đồng nghĩa với việc tháo bỏ vải che đầu th́ chúng ta thấy hai người đàn bà duy nhất có diện mạo “được b́nh thường” là hai người đàn bà trước đó đă “fuck” nhau sau lưng “chính quyền Taleban.”  C̣n những người đàn bà khác sau khi cởi khăn che mặt th́ bị mang h́nh dạng quái vật--từ xấu xí, không b́nh thường đến không phải là người nữa, mà là người của hành tinh khác. (Trường hợp này hoàn toàn giống với giới trí thức trong và ngoài nước vừa qua đă khoác cho chúng tôi những h́nh ảnh và biệt danh đáng sợ khi lối nữ quyền của chúng tôi không giống với lối khoe rốn như các ông mong muốn.) 

 

Ngoài ra, lối suy nghĩ rằng chỉ có đàn ông da trắng mới có thể cứu rỗi đàn bà phương Đông và đưa tự do dân chủ vào các văn hóa chuyên quyền như Hồi giáo hoặc Khổng giáo là một vấn đề phức tạp cần được phân tích một cách cặn kẽ chứ không phải chỉ đem ra chế nhạo hoặc nói bừa như đạo diễn nói trên và Hoàng Ngọc Tuấn đă làm.  Tuy chúng ta không thể bênh vực chế độ phụ quyền ở các nước phương Đông, chúng ta không thể cả tin về việc đàn ông Tây phương giải phóng phụ nữ khỏi cảnh đàn áp "rừng rú" của đàn ông Hồi giáo.  Đó không phải là thuần túy giải phóng phụ nữ mà là để chứng tỏ sự "văn minh cao cả" của đàn ông phương Tây đối với đàn ông phương Đông.  Thực chất, những cuộc giải phóng đó chỉ thay thế một chế độ phụ quyền này với một chế độ phụ quyền khác.  Các phong trào tiếp tục đấu tranh cho nữ quyền ở các nước phương Tây trong thời ḱ đương đại là bằng chứng tuyệt đối cho sự hiện hữu của chế độ phụ quyền cao cấp hơn và tinh vi hơn ở các nước phương Tây.

 

c. Trở lại với “Hĩm và Cu” của Hoàng Ngọc Tuấn

 

Việc Hoàng Ngọc Tuấn đơn giản hóa công cuộc đấu tranh nhân quyền của phụ nữ Afghanistan chỉ để chứng tỏ với nhóm Nguyễn Trần Khuyên rằng ông ta là một người thờ Hĩm thờ Cu, và như thế là một đấng nữ quyền thực thụ, th́ hành động này quả thật lố bịch. Chúng tôi không thấy buồn cười mà chỉ xấu hổ cho ông trước những nhận định nhảm nhí và thiếu lư tính về nữ quyền Afghanistan nói riêng, và nữ quyền Hồi Giáo nói chung. Cũng như trong cuộn phim này, Hoàng Ngọc Tuấn tước bỏ hết những mặt trận đấu tranh khác của phụ nữ dưới chế độ Taleban và bóp méo mục tiêu đấu tranh của họ thành quan điểm “nữ quyền” của ông. HNT không nghe, không thấy, không đếm xỉa và không đề cập ǵ đến những đ̣i hỏi chính trị khác ngoài tự do t́nh dục. V́ vậy, hành động nữ quyền của HNT cũng là một hành động nữ quyền “dỏm” và rỗng như bài trước chúng tôi đă phân tích.

 

Khi HNT giới thiệu với người đọc về áp bức phụ nữ dưới chính quyền Taleban, ông ta dùng 3 tấm h́nh để làm biện chứng, và sắp xếp chúng theo thứ tự như sau: 1) h́nh ảnh những người phụ nữ Afghanistan bị trùm đầu dưới purqa mà chính quyền Taleban bắt họ phải mặc, 2) h́nh hí họa lấy từ phim hoạt hinh và 3) h́nh một người phụ nữ che mặt dưới vải đen mỏng, ngồi vén váy phơi bày âm hộ cho ống kín.  Logic của sự xếp đặt này là để diễn dẫn người đọc theo cách suy nghĩ và hiểu biết hạn hẹp qua sự tŕnh bày khá khéo léo về sự đàn áp của phụ nữ Afghanistan dưới Taliban: Phụ nữ không đ̣i hỏi ǵ hơn ngoài việc ngoài việc "khoe Hĩm" và mục đích đấu tranh nữ quyền là giải phóng tự do vén váy. Và đương nhiên, ai không đồng ư đều bị xem là kẻ “bất nhân,” là “tôn giáo đạo đức,” là Khmer Đỏ, là Taleban…

 

Chúng tôi thật sự không h́nh dung được Hoàng Ngọc Tuấn dựa vào chứng minh ǵ để “hí” rằng “ước mơ to lớn nhất của phụ nữ dưới ách Taliban là được giải thoát khỏi cái ngục tù đă trói buộc thân xác ḿnh. Họ muốn giành lại thân xác ḿnh như giành lại một đoá hoa quư và góp hương sắc đoá hoa ấy vào thiên anh hùng ca của vẻ đẹp muôn thuở giữa tạo vật”?  Nếu đây không phải là một lối suy diễn duy dương vật, một biểu hiện miệt thị nữ quyền của ông ta th́ là ǵ? HNT đă vênh váo ủng hộ một người đàn ông da trắng “cởi đồ” phụ nữ Afghanistan để chứng minh rằng ông cũng nhiệt t́nh “cởi mở” trong lối suy nghĩ nam nữ b́nh quyền. Ông giải thích ra sao về sự cởi mở của ḿnh? Có phải ông đang hiệu lực hoá và khai triển những di sản của chế độ ḱ thị chủng tộc, chế độ phụ quyền Tây phương để “truyền” lại với các ông da vàng khác không? Vấn đề nực cười nhất là HNT lại đưa ra bộ phim của một người đàn ông Mỹ trắng, cũng thiếu kiến thức trầm trọng về sự đấu tranh của phụ nữ Afghanistan để làm minh hoạ cho bài viết của ḿnh. Nhưng trong khi vị đạo diễn Mỹ trắng này công khai thừa nhận những clip phim của ông ta “hạ cấp” và “rẻ tiền”, th́ HNT lại xem chúng như là bằng chứng hùng hồn cho luận nữ quyền của ông. Buồn thay!

 

HNT là một nhà trí thức, được nhiều người "tiền hô hậu ủng", sao lại có thể lạm dụng hai chữ "hí luận" để viết một bài viết vô trách nhiệm và tráo trở để phục vụ cho luận ngôn dốt nát của ḿnh? Nếu bạn đọc không đủ vốn tiếng Anh hoặc thiếu thông tin về lịch sử ḱ thị chủng tộc cũng như miệt thị giới tính ở các nước Tây phương. Nhất là ở Việt Nam như hiện nay, việc vào những trang web nước ngoài xem là rất khó (những trang web có h́nh ảnh khoả thân đều bị firewall), hoặc họ cũng không đủ thời gian để chạy theo mấy cái links của ông ta, và nếu chúng tôi không truy ra th́ những người tin vào hí ngôn này sẽ lại thêm một cơ hội bị HNT lừa vào trận đồ “Hĩm và Cu” của ông ta!

 

Thật sự như ông HNT có chú thích, viết tới đoạn 3 ông đă không c̣n thấy “đáng cười nữa" v́ lúc đó nhận được tin nhóm Nguyễn Trần Khuyên viết đơn kiến nghị yêu cầu Tạp Chí Thơ rút khỏi website của ḿnh những h́nh ảnh và văn đề miệt thị nữ giới.  HNT phát ra những câu rất “ hận đồ bàn”, rất xót xa phẫn nộ và “đậm t́nh nữ quyền”:

 

“Hôm trước họ vừa xông ra tuyên bố được vài câu "nữ quyền", tưởng là điều đáng mừng, th́ hôm sau họ lại đột ngột chuyển sang vận dụng một loại chính sách bắt chước theo tinh thần Taliban để đối xử với đồng loại. Nữ quyền là thờ phượng Hĩm, là cổ vũ cho chị em giành lại quyền làm chủ thân xác ḿnh, tự do tuyên dương thân xác ḿnh trước vũ trụ, con người và nghệ thuật. Nữ quyền đâu có phải là lập ra một cái thứ ǵ đó giống như Toà Án Nhân Dân để bắt buộc người này bận quần vào, người kia phủ váy xuống! Nữ quyền đâu có phải là đè phụ nữ xuống để bịt Hĩm lại! Nữ quyền đâu có phải là đè nam nhân xuống mà cột Cu lại! Nữ quyền đâu có phải là tụ bầy kết đám rồi đi loanh quanh từ đầu trên đến xóm dưới mà giương cao khẩu hiệu "Cấm khoe mông, không khoe rốn. Nữ quyền là Hĩm của ai thuộc về người ấy.” (Nam quyền là Cu của ai thuộc về người ấy).”

 

Như bạn đọc đă thấy, với cách nh́n méo mó về nữ quyền của HNT khi đưa ra minh chứng hùng hồn bằng một đoạn phim hạ cấp như trên th́ làm sao HNT lại có thể tự lập ra và định nghĩa những dạng nữ quyền được? V́ ông không hiểu biết và nhạy cảm về nữ quyền và những vấn đề liên quan tới nữ quyền, ông không có tư cách "vạch" ra "nữ quyền là ǵ," như ông không có quyền lên tiếng cho "ước mơ to lớn" của phụ nữ Afghanistan.  Việc ông nghĩ ǵ về nữ quyền và ông định nghĩa nó như thế nào (nữ quyền phải là ǵ, không nên phải là ǵ, v.v.) hoàn toàn không có giá trị -phụ nữ chúng tôi sẽ lên tiếng đ̣i hỏi những ǵ chúng tôi cần.

 

Cuối cùng, một vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập tới qua bài viết này, thông qua những vấn đề sai phạm trong bài “Hĩm và Cu” của Hoàng Ngọc Tuấn.  Chúng tôi mong những nhà phê b́nh văn học khác có một cách nh́n và nghiên cứu đúng hơn, mang tính chuyên nghiệp và khái quát cao. Tránh việc viết ra những tiểu luận cũng như hí luận đi vào ngơ cụt bởi thái độ cực đoan không đúng với tinh thần của một nghiên cứu gia.

 

Nguyễn Trần Khuyên

Tháng 5/2005.

 

[1] Connell, R.W.  Gender & Power.  Stanford University Press, 1987.

[2] Lấy từ bài của V. Spike Peterson, “Sexing Political Identities/Nationalism as Heterosexism.” International Feminist Journal of Politic, 1:1.

[3] Như diễn dẫn trên.

[4] Chúng tôi dùng từ “trục quan hệ quyền lực” ở đây theo từ “axis of power relations” của thuyết gia/nữ quyền Judith Butler.  Trong một mối quan hệ không b́nh đẳng giữa “đực” và “cái,” sự đàn áp nằm trên nhiều khía cạnh bất công khác, như giai cấp xă hội và chủng tộc, v.v.

[5]Bài viết của Luce Irigaray chúng tôi trích trong tuyển tập New French Feminisms, do Elaine Marks và Isabelle de Courtivron biên tập, Random House, 1988.

[6] Ở đây, chúng tôi không phản đối quyền phụ nữ uống bia, hút thuốc, v.v. Chúng tôi chỉ không chấp nhận việc các ông áp đặt lên phụ nữ một h́nh tượng giải phóng theo kiểu các ông thích.

-----------------------------------------------------

Nguyễn Trần Khuyên là ai?

 

Theo các thông tin thu thập trên mạng, Nguyễn Trần Khuyên Là:

 

- “Cộng Sản,” “ Việt Cộng,” “Trung Cộng”- theo Lư Đợi, Đỗ Kh

- “Taleban”- theo Đỗ Kh, Hoàng Ngọc Tuấn

- Nữ quyền bạt mạng”- Nguyễn Quốc Chánh, Hoàng Ngọc Tuấn, Bùi Chát

- “Khờ -“me Đỏ”- theo Đỗ Kh

- “Bộ Đạo Đức”-theo Hoàng Ngọc Tuấn

- “Một Nhóm Phụ Nữ Việt Nam Ḱ Quặc”- theo Hoàng Ngọc Tuấn

- “Hồng Vệ Binh Nữ Quyền”- theo Đỗ Kh.

                          ---------------------------------------------------------------         

           

Ngày 18/4/2005

 

Chào bạn đọc, các nhà văn nhà thơ nam-nữ đang theo dơi “vụ Nguyễn Trần Khuyên” vừa qua,

 

Cho đến nay (ngồi chờ đợi mỏi ṃn) chúng tôi vẫn chưa thấy có bài nào nói trúng vấn đề chúng tôi đặt ra trong bài viết “Một nền văn học xây dựng từ Đực và phục vụ cho Đực”. V́ chúng tôi mong được đọc những bài tranh luận đúng hướng với bài víết chúng tôi đưa ra, dựa trên kiến thức và lư tính có giá trị cho người đọc và người viết. Và để cuộc chơi được ṣng phẳng, đối phương không phải đoán ṃ, chúng tôi sẽ giới thiệu cho quí vị chúng tôi là ai. Nhưng trước hết, thiết nghĩ cũng nên trả lời cho những quí vị đă lên tiếng phản hồi [phản ứng, phản xạ, phản bác, phản đối, phản trí thức, phản nữ quyền] cho bài viết của chúng tôi với hy vọng tránh t́nh trạng phê b́nh hỗn loạn và paranoia như hiện nay.

 

I. Bàn về sự phản ứng của các cây bút nam về bài viết “Một nền văn học xây dựng từ Đực và phục vụ cho Đực” trên Talawas:

 

Như chúng tôi dự đoán, bài viết “Một nền văn học xây dựng từ Đực và phục vụ cho Đực” xuất hiện trên Talawas sẽ khơi lên những cuộc tranh luận “nảy lửa,” và các cây bút nam dính dáng ít nhiều trong bài viết này sẽ lên tiếng bộc lộ thái độ cũng như quan điểm của họ.  Nhưng trái với những ǵ mà chúng tôi và có lẽ bạn đọc mong đợi, các tác giả nam đă không phản ứng với những lập luận vững chắc mà dựa theo cảm tính.  Họ không tranh luận trực tiếp với chúng tôi về xu hướng và vấn nạn của văn chương Việt Nam đương đại, đặc biệt là khía cạnh chà đạp phụ nữ trong sáng tác của các cây bút nam, mà dùng những h́nh ảnh và ví dụ không tương hợp và dính dáng đến cuộc tranh luận đang diễn ra. Tệ hơn, họ cố t́nh bóp méo nội dung bài nhận định nghiên cứu của chúng tôi và lái nó vào một hướng khác, ví chúng tôi như những chế độ chuyên quyền áp đặt phụ nữ (?!). V́ những phản hồi này đến từ những cây bút được xem là có ít nhiều ảnh hưởng, chúng tôi buộc phải nghĩ rằng: (1) Họ cố t́nh hiểu lầm, lờ đi để phủ nhận những điểm chính của vấn đề; (2) Họ thực sự không có khả năng nhận thức và tranh luận một cách ṣng phẳng những vấn đề liên quan đến nữ quyền.

 

Trong bài “Đực Tính không thể qui thành cặc” của Nguyễn Quốc Chánh, xét từ ngay tiêu đề đă thấy anh không hiểu sâu mà c̣n hiểu sai vấn đề chúng tôi đặt ra, mặc dù anh công nhận đó là một bài “đáng suy nghĩ”.  Ngay cả bạn đọc cũng thấy được lập luận lủng củng, dựa trên triết lí ba xu của Chánh. Chúng tôi mạn phép trích bức thư của độc giả Nguyễn Áo Xanh gửi lên mục “Ư kiến bạn đọc” ở trang petition của chúng tôi:

 

Trong bài "Đực Tính Không Thể Quy Thành C. "Ông Nguyễn Quốc Chánh có vẻ không hiểu ông ta đang nói cái ǵ.  Nếu ông Nguyễn Quốc Chánh muốn tranh luận về "đực tính" và cái "tính" trước hết ông phải định nghĩa "đực" tính và cái "tính" như thế nào. Thế nhưng ông ta đă không có nổi một định nghĩa trong bài viết. Kế tiếp ông không dẫn dăi và không chứng minh ǵ cả, mà xáp lá cà bảo ngay rằng đực tính không thể quy là "c." và cái tính không thể quy là "l." (tôi sẽ không bao giờ đánh vần đủ những chữ này, v́ với tôi đấy là điều không thể chấp nhận được…" và “… Ông ngụy biện qúa nhanh. Ông phải đủ sức lư luận cũng như dẫn chứng để kết luận dương vật và âm vật không phải là biểu tượng cho tính đực và tính cái. Ông đă không làm chuyện lư luận và dẫn chứng, chỉ khơi khơi kết luận như thế th́ làm sao thuyết phục độc giả là "đực tính" không phải là "C." khi mà cái biểu tượng rơ rệt nhất giữa hai h́nh người ở bên ngoài là con c. và cái l. Câu kết luận "v́ đực tính không phải là c." của ông Nguyễn Quốc Chánh là một câu kết luận thiếu lập luận, thiếu giải thích, thiếu bằng chứng. Một bài viết chỉ dăm ba chữ lèo tèo mà đ̣i bàn về chữ "tính" này "tính" nọ. Thưa ông nếu ông muốn bàn về chữ "tính" th́ ông nên viết một bài rạch ṛi. Không thể viết một câu "đực tính là tính của một con đực" rồi sang câu khác " Một con đực mà không có Đực tính th́ là con ǵ?", rồi lại sang một câu khác: "Trái với Đực tính là Cái tính.", rồi đến một câu khác nữa: "Một con cái mà không có Cái tính th́ là con ǵ?"  Nhảy ngay qua một câu khác liền theo: "Một con đực mà lơ mơ về Đực tính th́ bị gọi là lại cái."  Ông đă đưa ra một đề tài to lớn là "đực" và "tính" vĩ đại thế mà chỉ viết một câu "Đực tính là tính của con đực". Xong nhảy sang đề tài "có đực tính hay không có đực tính".  Chưa xong đực tính th́ lại tự hỏi ḿnh: "Con cái không có cái tính là con ǵ". Tôi không hiểu ông Nguyễn Quốc Chánh được đào tạo từ nền giáo dục nào. Mà căn bản luận văn ông quá kém. Viết một phân đoạn nhỏ mà viết như một người chưa được học một lớp luận văn căn bản. Là khi giới thiệu một mệnh đề chính, th́ phải có những mệnh đề phụ hổ trợ cho mệnh đề chính như thế nào . Riêng tôi, v́ đọc một bài viết thiếu cơ sở lư luận, và tính nghiêm chỉnh của ông. Tôi không muốn căi cọ về định nghĩa của chữ "tính", hay các chữ "đực tính", "cái tính", "lại tính" này nọ.  Nói tóm lại, ông đă rất hồ đồ trong bài viết khi đưa ra quá nhiều đề tài to tát vĩ đại trong một bài viết ngắn. Nên bài viết của ông chẳng có tí giá trị nào. Thật là thất vọng khi thấy một ông nhà thơ Việt Nam nổi tiếng như ông mà viết một bài văn rất thiếu tiêu chuẩn luận văn: thiếu kiến thức, thiếu lư luận, thiếu mạch lạc, thiếu thuyết phục.  Nhảy cóc đủ đề tài. Toàn là phán những câu rất ấu trĩ và thiếu tŕnh độ hiểu biết tổng quát của một con người theo kịp thời đại.  Kiểu như : "Trước khi đ̣i nữ quyền, làm ơn hăy đi đ̣i nhân quyền cái đă !" Một câu thánh phán mà ngay cả một em nhỏ trung học ở Mỹ cũng thấy đây là một thái độ kỳ thị giống phái chỉ thấy ở những thành phần thô bạo và thiếu giáo dục…”.

 

Thông qua nhận định của chị Nguyễn Áo Xanh như trên, chúng tôi thiết nghĩ không c̣n ǵ để bàn về bài viết của Nguyễn Quốc Chánh.

 

C̣n với Nguyễn Viện, khác với thái độ của Nguyễn Quốc Chánh là đứng lại, nh́n vào vấn đề và bóp nó…méo.  Bài viết “Sợ hăi và tự do” của Nguyễn Viện là một sự chạy trốn hèn mạt trước tác phẩm mang nặng tính lạm dụng đàn bà của ông như chúng tôi đă đề cập trong bài trước.  Ông phủi bỏ trách nhiệm và trốn vào cái ông cho là “tự do”.  Theo chúng tôi, tính từ hoặc nơi chốn “tự do” của Nguyễn Viện chỉ là trạng thái và địa điểm vay mượn mà khi ông giơ ra, mọi người [có ư thức và tôn trọng tự do] buộc phải dừng lại trước cái từ to lớn ấy. Ở đây, Nguyễn Viện mượn cái vỏ của chữ “tự do” để chặn tiếng nói người đối thoại hơn là để bàn về tự do như một khái niệm triết học và như một nhu cầu chính trị xă hội. Bài viết của Nguyễn Viện là một thái độ bảo vệ quyền tự do sáng tác của ông ta trước cái mà ông cho là sự đe dọa của Nguyễn Trần Khuyên.  Nhưng ông đă hoàn toàn hiểu sai mục đích của chúng tôi. Chắc hẳn quí vị c̣n nhớ, chúng tôi viết rất rơ rằng:

 

Bài viết này không quan tâm lắm đến vấn đề đạo đức hoặc những ǵ liên quan đến tự do cá nhân. Chúng tôi cho rằng mọi người, kể cả các ng̣i bút, có quyền “ăn, đụ, ngủ, ị” theo sở thích riêng của họ. Bài viết này lại càng không quan tâm đên tự do viết lách, có nghĩa là mọi người hoàn toàn có thể viết những ǵ họ muốn. Điều chúng tôi hoàn toàn chống lại là việc những cây bút nam, đặc biệt là các ng̣i bút kể trên, duy tŕ quan niệm miệt thị giới tính, vốn là một biểu hiện của chế độ ḱ thị phụ nữ.”

 

Qua đoạn này, chúng tôi đă phân biệt rất rơ sự khác biệt giữa tự do sáng tác của cá nhân tác giả và tự do đ̣i hỏi của người đọc đối với tác giả-tác phẩm đó. Các tác giả có quyền tiếp nhận hoặc từ chối những phân tích và nhận định của người đọc/đồng nghiệp, nhưng họ hoàn toàn sai lầm khi nghĩ những nhận định này là một phương pháp cưỡng chế tự do sáng tác của họ. Khi tác phẩm đă được đăng hoặc tŕnh làng công khai, các nhận xét về nó thuộc về công chúng, chứ không phải thuộc về phạm vi cá nhân. V́ lẽ đó, người đọc có quyền lên tiếng, và lên tiếng triệt để nếu cần thiết, để chống nếu họ thấy những tác phẩm đó xúc phạm đến họ. Như khi bộ phim “Birth of a Nation” (Sự ra đời của một quốc gia) của D.W. Griffith ra mắt khán giả năm 1915 (bộ phim này được dựa trên tiểu thuyết cùng tên của mục sư Thomas Dixon Jr.), đă lập tức gây ra ít nhất 32 cuộc biểu t́nh trên khắp nước Mỹ do người Mỹ da đen kết hợp với một số người da trắng cấp tiến để cùng nhau lên tiếng chống đối thông điệp ḱ thị của bộ phim nói riêng và của chủ nghĩa ḱ thị ở Hoa Kỳ đối với người da đen nói chung.  Bộ phim vào thời đó đă thu hút được nhiều khán giả da trắng v́ nó khẳng định sự tự tôn cuả nguờ́ da trắng đối với những người da đen.  Nhân vật da đen trong bộ phim này được mô tả như những kẻ dâm đăng, chuyên truy lùng hăm hiếp phụ nữ da trắng và đ̣i hỏi cơ chế b́nh quyền với người da trắng, và trong quá tŕnh đó, tạo nên một xă hội hỗn loạn, nguy hiểm và phi luân lư.  Những cuộc biểu t́nh không chấm dứt ở năm 1915 mà vẫn tiếp tục diễn ra nhiều lần trong thâp niên vưà qua. Điển h́nh nhất là trong năm 1993, khi bộ phim này được đưa vào hộ tịch phim ảnh quốc gia, rồi năm 1998, khi nó được tuyển vào danh sách 100 bộ phim hay nhất của Mỹ, người Mỹ da đen đă lên tiếng đả kích bộ phim rầm rộ nhằm kêu gọi chính quyền cũng như khán giả Mỹ lưu ư tới khía cạnh ḱ thị của bộ phim. Qua đó họ muốn nói đến hậu quả của chế độ ḱ thị đối với cộng đồng người da đen trong thời ḱ đương đại.  Nói tóm lại, việc biểu t́nh phản đối hay chống đối bằng cách thu thập chữ kí không phải là một hành động nhằm tước đoạt tự do ngôn luận của người khác mà là sử dụng tự do ngôn luận để đấu tranh cho quan điểm của ḿnh.  Đây là một điều hoàn toàn dân chủ và b́nh thường ở một nước tự do.

 

V́ vậy, việc các cây bút nam hải ngoại hoặc ngấm ngầm hoặc lộ liễu kết án chúng tôi “vi phạm quyền tự do sáng tác” là một kết luận nông cạn. Làm sao chúng ta có thể đẩy xa nền phê b́nh văn học và sáng tác văn chương Việt Nam nếu như phản ứng đầu tiên của chúng ta trước lời phê b́nh của người khác là cảm tính xốc nổi, thiếu lập trường và bản lĩnh (nói sát nghĩa hơn là “chửi rủa” người phê b́nh)?

 

Trở về với Nguyễn Viện, khi ông không thể t́m thấy tự do dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, nhưng cũng không đủ sức tạo cho ḿnh một tự do nội tại, ông đă phải giải phóng bản thân ḿnh qua thân xác đàn bà. Ông nói: “Tôi chỉ có thể giải phóng tôi như giải phóng một áp chế chính trị là đâm dương vật ḿnh vào âm hộ đàn bà để những linh hồn được trao trả cho thân xác của chúng.” Và , tôi biết ơn đàn bà v́ với họ, tôi] t́m thấy độc lập tự do hạnh phúc. Bởi thế, t́nh dục của tôi trong văn học là một t́nh thế chính trị. Giải trừ định kiến và sợ hăi để xác lập tự do từ bên trong. Ít ra cho chính tôi. Tôi không c̣n tin văn học có thể làm được ǵ cho người khác”

 

Thưa ông Nguyễn Viện, đàn bà có thật sự thấy được “độc lập tự do hạnh phúc” không, khi một người đàn ông [nhà văn, 56 tuổi không tin văn học có thể làm được ǵ cho người khác], đến cả đào tẩu cũng phải t́m về âm hộ của người đàn bà để núp?  Phụ nữ không phải là một nơi để ông “t́m đến tự do” hoặc để ông “thấy được chính ông” hay v́ bất cứ lí do nào đến từ những ức chế của ông.  Họ cũng có nhu cầu tự do, khát khao b́nh đẳng và quyền tự quyết định t́nh dục của họ cho chính bản thân họ. Cho nên, câu“t́nh dục của tôi trong văn học là một t́nh thế chính trị” là một ngụy biện cho việc ông sử dụng đàn bà như dụng cụ “giải phóng”.  Thật ra, câu văn trên của ông phải được viết chính xác hơn như thế này: “t́nh dục của tôi trong văn học là một t́nh thế lợi dụng chính trị ngụy biện cho sự chà đạp nữ giới.

 

Nguyễn Viện nhân danh tự do, “giải trừ định kiến và sợ hăi” bằng cách “đưa dương vật vào âm hộ đàn bà”, mà không cần biết đàn bà nghĩ ǵ, cảm giác ǵ. T́nh dục trong văn chương của ông thực chất là lạm dụng và sử dụng phụ nữ như một công cụ để giải toả áp bức chế độ cho đàn ông.  Và, trong t́nh thế t́m đến tự do này, nếu không giải thoát được cho tất cả mọi người [có thể hiểu là đàn ông], Nguyễn Viện “lí giải” rằng “ít ra cho chính tôi”. Nhưng, cũng chính trong cách giải quyết này, bạn đọc nữ như chúng tôi không thể nào mất đi cảm giác “sợ hăi”, “giải trừ định kiến” hoặc được “tự do”. Dưới ng̣i bút của Nguyễn Viện, việc lao dương vật vào phụ nữ để trút lên họ những “áp chế chính trị” trở thành một phản xạ tự nhiên của đàn ông.  Bất cứ phụ nữ nào chống đối việc này đều trở thành “nhóm Nguyễn Trần Khuyên.”  Nên, câu “tuyên ngôn” của ông trong bài viết: “...chỉ có tự do mới có phẩm cách làm người” là một câu phát biểu rỗng tuếch và hết sức lố lăng! Câu tuyên ngôn này của Nguyễn Viện cũng chẳng khác ǵ câu “chỉ có đâm dương vật vào đàn bà mới có phẩm cách làm người.”  Một kẻ đối xử với phụ nữ như vật đụ th́ làm sao có tư cách bàn v“phẩm cách làm người”?

 

Nói tóm lại, lí giải của Nguyễn Viện về tác phẩm và đời sống của ông, chứng tỏ trong tận cùng, đàn bà vẫn là nơi để giải quyết thuận tiện nhất.  Sự trốn chạy trách nhiệm của Nguyễn Viện trước việc lợi dụng phụ nữ trong tác phẩm là sự trốn chạy được ngụy trang dưới h́nh thức bảo vệ tự do cá nhân và sáng tác. Về phía chúng tôi, đứng trước những lời nói miệt thị công khai của Nguyễn Viện, chúng tôi lại càng thấy kiên quyết hơn trong việc chỉ trích triệt để thái độ vừa ăn cướp vừa la làng của giới trí thức nam, có nghĩa là họ vừa lộ liễu chà đạp phụ nữ vừa bù lu bù loa cho họ là nạn nhân khi phụ nữ lên tiếng đả kích họ.

                                               

II. Về cuộc petition yêu cu rút những h́nh ảnh lạm dụng và nhục mạ phụ nữ trên Tạp chí Thơ của nhóm Nguyễn Trần Khuyên.

 

Viêc chúng tôi phát động phong trào thu thập ch kí từ bạn đọc và các văn hữu trong ngoài nước để gửi đến Tạp Chí Thơ và yêu cầu họ rút những h́nh ảnh nhục mạ phụ nữ và phỉ báng nghệ thuật đă gây không ít phẫn nộ từ giới sáng tác .  Không ít các văn hữu đă vu khống chúng tôi là những nhà đạo đức độc tài, hoặc các đảng viên cộng sản chân chính.  Những lời kết án này chứng tỏ một ư thức yếu kém về tự do dân chủ cũng như một lối suy nghĩ phản nữ quyền của giới trí thức nam. 

 

Khi bài viết của chúng tôi vừa đăng trên Talawas, không ít văn hữu email “ủng hộ” bài phân tích cũng như quan niệm nữ quyền của chúng tôi.  Nhưng khi chúng tôi gởi đơn kiến nghị, th́ cũng những văn hữu này lên tiếng phản bác và so sánh hành động chống TCT của chúng tôi như hành động chuyên chế ép bức tự do ngôn luận của chế độ Cộng Sản Việt Nam.  Nhưng sự so sánh này hoàn toàn khập khiễng, nếu không muốn nói là lố bịch và thiếu hiu biếtv́ hai lí do chính: (a) Hành động chống đối bằng cách vận động chữ kí qua đơn kiến nghị là một hành động chỉ có thể xảy ra trong bối cảnh tự do dân chủ. Các kiến nghị chống đối hay ủng hộ một vấn đề ǵ đó là một biểu hiện của tự do ngôn luận, không phải là điều ngược lại. Có nghĩa là, nếu Tạp chí Thơ có thể sử dụng tự do ngôn luận của họ đề “cải cách” văn chương, th́ chúng tôi cũng có thể sử dụng tự do ngôn luận của ḿnh để biểu hiện sự chống đối cái mà Tạp chí Thơ cho la` “cách tân,” với tư cách một hoặc nhiều cá nhân. (b) Chúng tôi, những cá nhân hoặc công dân, không có quyền lực của một chính quyền. Chúng tôi chỉ có quyền chống đối Tạp chí Thơ bằng tiếng nói, chứ không qua h́nh thức ném đá, đánh đập hoặc bắt giam bỏ tù.  Việc “chống đối” và “đàn áp” đ̣i hỏi hai bối cảnh quyền lực rất khác nhau.

 

Khi chúng tôi quyết định viết đơn kiến nghị, chúng tôi biết rất rơ cho dù có thâu thập được 3000 hay 4000 chữ kí đi chăng nữa cũng không thể ép Tạp chí Thơ lấy những h́nh ảnh láo xược và hạ nhục phụ nữ xuống [v́ sự trơ ĺ hoặc vô ư thức].  Nhưng chúng tôi không chọn h́nh thức im lặng hoặc “lơ đi” như một chiến thuật chống đối, mặc dù trong tuần vừa qua, chúng tôi nhận được rất nhiều thư từ các cây bút “khuyên” là “Tạp chí Thơ là tạp chí quèn, có ai thèm đọc nó đâu, chống làm chi…,” hoc “Tạp chí Thơ như một đống c., các bạn càng chống, nó càng trét c. lên tờ báo của nó…,” hoặc lịch sự như Khánh Trường th́ “cái ǵ không hay, không tốt, không có giá trị sớm muộn ǵ cũng bị đào thải, vượt qua. Đó là qui luật tất yếu.”  Tất cả những điều này đă không ngăn cản chúng tôi tiến hành đơn kiến nghị, v́ đối với chúng tôi phản ứng của Tạp chí Thơ KHÔNG QUAN TRỌNG BẰNG việc chúng tôi LÊN TIẾNG chống đối Tạp chí Thơ một cách dân chủ.  Qua việc phát hành đơn kiến nghị, chúng tôi muốn thể hiện một cử động dân chủ cũng như xem xét lại “bộ mặt thật” của giới trí thức hải ngoại và trong nước QUA CHÍNH LỜI NÓI CỦA HỌ.  Giới trí thức ngoài nước đua nhau chỉ trích sự thiếu tự do trong nước (không phải là không đúng) nhưng lại không tưởng tượng tự do ấy như thế nào khi có được nó.  Ở đây, chúng tôi “thông cảm” cho các cây bút trong nước như Lư Đợi, Bùi Chát, Nguyễn Quốc Chánh, Nguyễn Viện,…do quen sống dưới chế độ Cộng Sản nên bất cứ h́nh thức chỉ trích tác phẩm hoặc tác giả nào đều bị họ xem là đàn áp tự do nhân quyền và tự do sáng tác.  Nhưng chúng ta giải thích như thế nào trước sự vu khống của giới trí thức ngoài nước, đă sống và thở không khí tự do dân chủ?

 

Đương nhiên chúng tôi ư thức được rằng, trong một cộng đồng viết thật nhỏ bé ở hải ngoại, việc đồng nghiệp chống đối nhau trông thật “mất đoàn kết” và “không xem được”. Có những người có quan hệ thân thiết với Đỗ Kh, Khế Iêm hoặc cộng tác chặt chẽ với Tạp chí Thơ, và việc kí tên của họ vào đơn là một hành động quá triệt để.  Nhưng về phía chúng tôi, việc các vị kí tên vào đơn kiến nghị mang một ư nghĩa quan trọng hơn: Chúng tôi không phải lên tiếng chống đối một cá nhân Đỗ Kh hay một diễn đàn văn chương nhất định mà lên tiếng chống đối các h́nh thức lạm dụng thể xác và t́nh dục phụ nữ để phục vụ văn học Việt Nam nói chung.  Sự đàn áp nữ giới của đàn ông có thể được giải thích bởi những tác động chính trị nhưng không thể là nguyên nhân bào chữa hoặc  ép phụ nữ phải chấp nhận và bỏ qua. Tất cả những cuộc đấu tranh trong lịch sử đều “phủ nhận” nữ quyền bằng việc xếp các nhân quyền (có thể được gọi là “nam quyền”) trước tất cả các vấn đề khác. V́ thế, chúng tôi càng thuyết phục là ḿnh phải chống đối tiếp tục khi Nguyễn Quốc Chánh đă tuyên bố gần đây “trước khi có nữ quyền, phải có nhân quyền”.

 

Chúng tôi đă không hành động một cách ngây ngô, nghĩa là đă không ḱ vọng rằng bài viết của chúng tôi sẽ biến cá nhân Đỗ Kh, Nguyễn Quốc Chánh, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc, v.v, thành những nhà nữ quyền .  Việc Đỗ Kh phán ra gần đây: “Ở vị trí văn nghệ sĩ, chúng tôi không có tham vọng ư thức văn học” cho thấy sự “bi quan” của chúng tôi hoàn toàn có căn cứ.  Trước khi vào cuộc chơi, chúng tôi đă đoán một trong hai t́nh huống sau đây sẽ xảy ra: (1) Tạp chí Thơ sẽ b́nh tĩnh và chỉnh lại hướng thể hiện đề tài (xác suất hy vọng của chúng tôi là 0.069%) và (2) Tạp chí Thơ sẽ tự bộc lộ bản chất lăng mạ phụ nữ rơ nét hơn qua thái độ “ĺ” và tiếp tục đăng những h́nh ảnh táo tợn hơn (nhiều nhiều phần trăm c̣n lại).  Qua đó, những người a dua đứng về Tạp chí Thơ, góp sức cho Tạp chí Thơ những h́nh ảnh phỉ báng phụ nữ cũng sẽ lộ diện rơ. Đến lúc đó, việc “vạch mặt” Tạp chí Thơ và những “hành động” trơ trẽn đă rơ như ban ngày, chúng tôi không cần petition nào nữa (lại một lần nữa chúng tôi là tiên tri!).

 

Bên cạnh vic vu khng chúng tôi tưc đoạt tự do ngôn luận, những người lên tiếng chng đi chúng tôi c̣n quy cho chúng tôi tội “đạo đức tôn giáo cực đoan”, theo kiểu chính quyền Taleban.  Đáng “bàng hoàng” cho chúng tôi hơn nữa là việc nhiều người kết án chúng tôi đă “không cho các chị em khoe rốn.”  Hầu như là một hiện tượng qua đêm, giới trí thức nam hải ngoại cùng nhau vùng lên đ̣i lại quyền tự do phơi rốn cho chị em phụ nữ.  Họ c̣n kết án chúng tôi là những người “đè Hĩm xuống để che Hĩm lại và đè Cu xuống để cột Cu lại”.  Như chúng tôi đă phân tích phần trên về bài phản hồi của Nguyễn Viện, chúng tôi CHƯA BAO GIỜ CHỐNG ĐỐI TỰ DO CÁ NHÂN.  Chúng tôi lập lại (và có lẽ sẽ c̣n phải lập lại nhiều lần): chúng tôi chống một trào lưu văn hóa văn chương duy dương vật, vô t́nh hay cố ư duy tŕ định kiến giới tính và miệt thị phụ nữ.  Điều buồn cười là đơn kiến nghị của chúng tôi không hề có mục nào “ra lệnh” TCT phải lấy xuống h́nh ảnh “các chị em khoe rốn.”,mà trong thư kiến nghị rơ ràng chúng tôi chỉ buộc TCT bỏ những mục có h́nh ảnh sỉ nhục phụ nữ hiện nay. Nên việc TCT, cũng như cá nhân Đỗ Kh, các nhà văn nữ, các cây bút nam lên tiếng inh ỏi bảo vệ những cái rốn rơ ràng là một sự xuyên tạc không đúng sự thật. Họ cố t́nh đánh lạc hướng  để khỏi phải giải thích chợ hàng thịt phụ nữ trên mạng nhà của TCT chăng?  Và trong bài viết cũng như petition, chúng tôi không hề có câu văn là “cấm đoán t́nh dục trong văn chương” như mọi người khép tội chúng tôi hiện nay để bàn thêm vấn đề này, các cây bút nam nữ hăy đọc KĨ LẠI bài của chúng tôi, đừng nóng giận lên rồi cố ư bóp méo những điều chúng tôi đă đưa ra.)

 

Chốt lại những vấn đề liên quan đến petition này, một lần nữa chúng tôi xin nhắc lại, cuộc petition của chúng tôi chống Tạp chí Thơ là sự phản ứng và lên tiếng phản đối của chúng tôi cho ḍng VĂN CHƯƠNG MIỆT THỊ NỮ GIỚI. Chúng tôi không tước đoạt quyền tự do của ai cũng như không ép ai phải kí vào lá đơn này. Chúng tôi sẽ mở ngỏ petition này và chờ đợi đến người cuối cùng chống văn chương miệt thị nữ giới vào kí.